Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Cơ quan chức năng trả lời kiến nghị của cử tri thành phố Bắc Kạn trước kỳ họp thứ 9, HĐND tỉnh khóa VIII

( Cập nhật lúc: 11/01/2016  )

 

1. Cử tri Trần Văn Đoàn, cán bộ xã Xuất Hóa, thị xã Bắc Kạn đề nghị ngành chức năng hướng dẫn hoàn chỉnh hồ sơ công nhận liệt sĩ cho 02 trường hợp đã làm hồ sơ công nhận liệt sĩ nhưng còn thiếu giấy tờ gốc là ông Nguyễn Văn Nhi, làm thông liên lạc bị địch bắt vào năm 1947 sau đó mất tin, mất tích; bà Dương Thị Tụy, sinh năm 1947 tham gia công nhân năm 1965 (thuộc Cục doanh trại, Tổng cục Hậu cần, Bộ Quốc phòng) đã hy sinh tại Cầu Ô gà (huyện Chợ Mới) năm 1965 và có giấy báo tử của đơn vị nhưng đã bị mất (hiện còn rất nhiều nhân chứng)


Trả lời: (Tại văn bản số 1456/LĐTBXH-NCC ngày 24/11/2014 của Ủy ban nhân dân thị xã Bắc Kạn)


Căn cứ quy định tại Điều 4, Thông tư liên tịch số 28/2013/TTLT/BLĐ TBXH-BQP ngày 22 tháng 10 năm 2013 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Quốc phòng hướng dẫn xác nhận liệt sĩ, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh trong chiến tranh không còn giấy tờ thì thủ tục xác nhận đối với người hy sinh thuộc lực lượng quân đội do ngành quân đội hướng dẫn, tiếp nhận và giải quyết hồ sơ. Do vậy, đối với 02 trường hợp trên đề nghị cử tri và thân nhân ông Nguyễn Văn Nhi, bà Dương Thị Tụy liên hệ trực tiếp với Ban chính sách (Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Bắc Kạn) để được hướng dẫn lập hồ sơ theo quy định.

 

2. Cử tri Ma Ngọc Thiềm, thôn Nà Thoi, xã Quang Thuận, huyện Bạch Thông phản ánh: Ông tham gia kháng chiến tại chiến trường miền Nam những năm 1960 – 1975 và bị mắc bệnh tiểu đường thuộc các loại bệnh được quy định tại Thông tư liên tịch số 41/2013/TTLT-BYT-BLĐTBXH ngày 18/11/2013 của liên Bộ Y tế, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội nhưng chưa được giám định sức khỏe theo Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 của Chính phủ. Đề nghị xem xét, giải quyết.


Trả lời: (Tại văn bản số 1456/LĐTBXH-NCC ngày 24/11/2014 của Ủy ban nhân dân thị xã Bắc Kạn)


Trường hợp cử tri nêu trên, đến nay Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Kạn vẫn chưa nhận được hồ sơ của ông Ma Ngọc Thiềm, thôn Nà Thoi, xã Quang Thuận, huyện Bạch Thông do phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Bạch Thông chuyển đến, do vậy không có cơ sở để xem xét trả lời cụ thể. Đề nghị ông liên hệ với UBND xã Quang Thuận và phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Bạch Thông để được trả lời và hướng dẫn lập hồ sơ theo quy định.

 

3. Cử tri Trần Thị Thân, thôn Lũng Hoàn, xã Xuất Hóa, thị xã Bắc Kạn đề nghị:


a. Trang bị máy chụp cắt lớp cho Bệnh viện đa khoa tỉnh để phục vụ việc khám chữa bệnh cho người dân.


Trả lời: (Tại văn bản số 401/BC-UBND ngày 4/12/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn)


Máy chụp cắt lớp tại BVĐK trước đây là máy xã hội hóa, hiện nay đã hỏng không còn khả năng khắc phục. Năm 2014 UBND tỉnh đã cấp kinh phí để mua sắm, hiện tại đang trong quá trình tổ chức đấu thầu mua sắm và đã được khảo sát vị trí lắp đặt tại Bệnh viện đa khoa tỉnh.

 

b. Phản ánh: Ngày 26/3/2014 gia đình bà Trần Thị Thân có gọi xe cấp cứu của Bệnh viện đa khoa tỉnh để đưa bệnh nhân từ Thôn Lũng Hoàn (cách thị xã 6km) đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh, nhưng phải trả số tiền là 600.000 đồng. Mức thu như vậy có đúng hay không?   


Trả lời: (Tại văn bản số 401/BC-UBND ngày 4/12/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn)


Hiện nay trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn tồn tại 02 loại hình xe vận chuyển cấp cứu người bệnh:

 

- Xe vận chuyển cấp cứu của Bệnh viện đa khoa tỉnh và Trung tâm Y tế các huyện, thị xã. (xe mang biển kiểm soát màu xanh ) phục vụ vận chuyển các đối tượng thuộc chính sách do quỹ BHYT chi trả, được vận chuyển từ tuyến huyện lên tuyến tỉnh, tuyến tỉnh lên tuyến trung ương.

 

- Xe  vận chuyển cấp cứu 115 (xe mang biển kiểm soát màu trắng)  là xe liên kết giữa Doanh nghiệp tư nhân ( do bà Nguyễn Thị Dung làm chủ doanh nghiệp) với BV, tham gia phục vụ vận chuyển cấp cứu, người bệnh trên địa bàn tỉnh thông qua số điện thoại 115, tiền vận chuyển do người bệnh tự chi trả.

 

Sau khi rà soát sổ theo dõi nhật trình xe vận chuyển cấp cứu 115, ngày 26/3/2014 có vận chuyển người bệnh taị Thôn Lũng Hoàn xã xuất hóa lên BVĐK tỉnh với giá 600.000đồng như phản ảnh. Mức này cao hơn mức giá dự kiến mà BVĐK đang trình Sở Tài chính phê duyệt. Mức dự kiến là vận chuyển bệnh nhân từ nhà đến bệnh viện đa khoa tỉnh mà BVĐK tỉnh trình là: trong khoảng cách từ 6-10km quy định 400.00đ, như vậy trường hợp gia đình bà Thân đã chi trả cho lái xe 115 cao hơn so với mức dự kiến là 200.000đồng.

 

Để khắc phục tình trạng tùy tiện  thu tiền vận chuyển bệnh nhân qua số điện thoại 115 Sở Y tế sẽ chỉ đạo Bệnh viện Đa khoa tỉnh:

 

- Căn cứ đề án liên doanh, liên kết, BVĐK tỉnh có trách nhiệm niêm yết công khai bảng giá vận chuyển để người dân biết và giám sát; Trường hợp doanh nghiệp không dáp ứng bệnh viện có quyền tìm đối tác khác có đủ năng lực và thực hiện nghiêm túc những quy định đã cam kết.

 

Trả lời: (Tại văn bản số 815/BVĐK-KHTH ngày 26 tháng 11 năm 2014 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn)


Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn đang tồn tại 02 loại hình xe cấp cứu và vận chuyển bệnh nhân, cụ thể:

 

- Loại hình thứ nhất: Là xe cứu thương (biển xanh) được nhà nước hoặc các chương trình dự án cấp do Bệnh viện Đa khoa tỉnh trực tiếp quản lý, theo quy định hiện hành chỉ phục vụ cho việc vận chuyển người bệnh thuộc các đối tượng chính sách do quỹ bảo hiểm y tế chi trả kinh phí vận chuyển hoặc đi làm nhiệm vụ theo sự phân công của Sở Y tế hoặc đưa cán bộ của bệnh viện đi hỗ trợ chuyên môn của tuyến dưới.

 

- Loại hình thứ hai: Là liên kết với các cá nhân, tổ chức ngoài bệnh viện để phục vụ vận chuyển bệnh nhân. Hiện tại, đã xây dựng đề án liên kết với Doanh nghiệp tư nhân Vận chuyển, cấp cứu 115 Bắc Kạn do bà Nguyễn Thị Dung làm chủ (có 02 xe cứu thương biển trắng) tham gia phục vụ hoạt động vận chuyển, cấp cứu bệnh nhân trên địa bàn tỉnh thông qua số điện thoại 115.

 

 Sau khi rà soát lại sổ theo dõi nhật trình xe của cơ sở 115 do Doanh nghiệp tư nhân Vận chuyển, cấp cứu 115 Bắc Kạn và gặp trực tiếp người nhà bệnh nhân được biết trong ngày 26/3/2014 Doanh nghiệp trên có tham gia cấp cứu và vận chuyển 01 bệnh nhân từ thôn Lủng Hoàn, xã Xuất Hóa, thị xã Bắc  Kạn và có thu số tiền là 600.000 đồng như phản ánh. Mức giá này cao hơn mức giá dự kiến trình duyệt và tạm thời áp dụng (trong thời gian hoàn tất hồ sơ bảng giá trình cấp có thẩm quyền phê duyệt) là 200.000 đồng (theo dự kiến và thực tế mức thu đối với việc cấp cứu, vận chuyển bệnh nhân với khoảng cách từ 6 đến 10 km chỉ là 400.000).

 

  Để khắc phục tình trạng tùy tiện thu tiền vận chuyển bệnh nhân thông qua số điện thoại cấp cứu 115 Bệnh viện đa khoa tỉnh sẽ tiến hành ngay:

 

 - Căn cứ đề án liên doanh liên kết và bảng giá vận chuyển bệnh nhân khi được phê duyệt tiến hành rà soát, thương thảo và ký kết hợp đồng bổ sung về vận chuyển bệnh nhân với doanh nghiệp Vận chuyển, cấp cứu 115 Bắc Kạn. Trường hợp doanh nghiệp này không đáp ứng yêu cầu, Bệnh viện đa khoa tỉnh sẽ tìm đối tác vận tải có đủ năng lực và cam kết thực hiện nghiêm chỉnh những quy định về vận chuyển bệnh nhân.

 

- Đối với trường hợp cụ thể mà bà Trần Thị Thân phản ánh mặc dù Bệnh viện đa khoa tỉnh không trực tiếp quản lý Doanh nghiệp tư nhân Vận chuyển 115 Bắc Kạn nhưng sẽ yêu cầu chủ doanh nghiệp là bà Nguyễn Thị Dung hoàn trả lại số tiền chênh lệch 200.000 đồng thu vượt so với mức giá tạm thời áp dụng, đồng thời nếu doanh nghiệp còn tái phạm Bệnh viện sẽ chấm dứt hợp đồng liên kết với doanh nghiệp Vận chuyển, cấp cứu 115 Bắc Kạn.


  c. Đề nghị có biện pháp thu hồi đất của các doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả trên địa bàn (trong đó có: khu đất Cốc Chặng giao cho công ty Na Rì HAMICO từ năm 2007 nhưng không hoạt động; khu đất đã cấp cho thanh tra Cục đường bộ tại thôn Lũng Hoàn từ năm 2007 nhưng đến nay không sử dụng đề nghị thu hồi để làm nhà họp thôn của thôn Lũng Hoàn).


Trả lời: (Tại văn bản số 401/BC-UBND ngày 4/12/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn)


          Khu đất được giao cho Khu quản lý đường bộ II – Cục Đường bộ Việt Nam để sử dụng vào mục đích xây dựng công trình trụ sở làm việc Đội Thanh tra đường bộ I – 10, Thanh tra đường bộ Việt Nam tại Quyết định số 462/QĐ-UBND ngày 27/3/2007 của UBND tỉnh Bắc Kạn và có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 460m2, tại tờ bản đồ số 19, xã Xuất Hóa, thị xã Bắc Kạn. Từ khi được giao đất cho đến nay đã không đưa đất vào sử dụng và xây dựng công trình theo dự án được phê duyệt vi phạm Điều 64 Luật đất đai năm 2013, Sở Tài nguyên và Môi trường sẽ thực hiện việc xử lý vi phạm và có văn bản trình UBND tỉnh thu hồi để giao cho địa phương quản lý theo quy định.

 

4. Cử tri Lý Kim Báo, thôn Tân Cư, xã Xuất Hóa, thị xã Bắc Kạn phản ánh: Trại nuôi lơn của ông Nam tại thôn Tân Cư, xã Xuất Hóa gây ô nhiễm môi trường đã được cơ quan chức năng kiểm tra, nhắc nhở nhưng vẫn chưa được khắc phục. Hiện nay mức độ ô nhiễm rất nghiêm trọng đề nghị có biện pháp giải quyết dứt điểm.


Trả lời: (Tại văn bản số 172/BC-STNMT ngày 25/11/2014 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Kạn).


Sau khi nhận được phản ánh trên, ngày 13/11/2014 Sở Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Bắc Kạn, UBND xã Xuất Hóa tiến hành kiểm tra tại Trại nuôi lợn tập trung thuộc thôn Tân Cư, cụ thể:

 

- Trại chăn nuôi lợn tại thôn Tân Cư, xã Xuất Hóa là của ôngTrần Văn Cường Giám đốc Công ty Cổ phần và xây dựng Vân Tùng được đầu tư xây dựng và chăn nuôi theo dự án xây dựng mô hình trang trại sản xuất lợn Móng Cái thuần chủng thuộc Trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ tỉnh Bắc Kạn làm chủ dự án. Do nhiều nguyên nhân, dự án đối với ôngTrầnVăn Cường không thực hiện được, nên ông Cường đã tự đầu tư chăn nuôi theo hộ gia đình cá nhân tự phát. Ngày 10/8/2013 ông Trần Văn Cường cho ông Nguyễn Văn Nam, trú tại số nhà 119, Tổ 1A, phường Đức Xuân thuê lại để đầu tư, chăn nuôi cho đến nay. Trong quá trình chăn nuôi lợn, ông Cường, ông Nam đã để chất thải, nước thải không qua xử lý chảy trực tiếp ra môi trường, UBND xã Xuất Hóa đã tiến hành kiểm tra nhắc nhở yêu cầu khắc phục tình trạng gây ô nhiễm, xử lý nước thải ô nhiễm, lập hồ sơ đề án bảo vệ môi trường trước ngày 15/8/2014.

 

Kết quả xử lý:

 

- Về đất đai: Khu đất của ông Trần Văn Cường sử dụng đất làm Nhà sàn và nhà chăn nuôi lợn cùng các công trình phụ trợ trên diện tích đất bằng trồng cây hàng năm khác từ tháng 10 năm 2012 là hành vi sử dụng đất sai mục đích, Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường đã đình chỉ ngay hành vi sử dụng đất sai mục đích cho đến khi ông hoàn tất các thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định và có biện pháp khắc phục hậu quả buộc tháo rỡ các tài sản là nhà ở, nhà chăn nuôi lợn và các công trình trên đất và khôi phục lại hiện trạng, theo mục đích sử dụng ban đầu (Có Biên bản vi phạm hành chính ngày 21/11/2014 kèm theo).

 

- Về môi trường: Trại lợn của ông Trần Văn Cường, hiện nay là ông NguyễnVăn Nam thuê lại, trước khi đầu tư chăn nuôi lợn cho đến nay với quy mô nhỏ chưa lập bản cam kết công tác bảo vệ môi trường để cơ quan có thẩm quyền xác nhận. Trong quá trình chăn nuôi đã để chất thải, nước thải chảy trực tiếp ra môi trường không qua xử lý, mặc dù đã được chính quyền địa phương nhắc nhở, yêu cầu khắc phục nhưng không thực hiện, để nhân dân trong thôn Tân Cư phản ánh gây ô nhiễm môi trường là đúng. Sở Tài nguyên và Môi trường đã xử lý vi phạm và đình chỉ ngay hoạt động chăn nuôi gây ô nhiễm môi trường cùng các biện pháp khắc phục hậu quả là không được đầu tư thêm về số lượng lợn, xử lý ngay nước thải, chất thải đã thải ra môi trường tại khu vực xả thải, khôi phục lại hiện trạng môi trường ban đầu, thời gian là 30 ngày.

 

5. Cử tri Trần Thị Thân, thôn Lũng Hoàn, xã Xuất Hóa, thị xã Bắc Kạn đề nghị có biện pháp thu hồi đất của các Doanh nghiệp hoạt động không có hiệu quả trên địa bàn, cụ thể là khu đất đã cấp cho Thanh tra Cục đường bộ tại thôn Lũng Hoàn từ năm 2007 nhưng đến nay không sử dụng đề nghị thu hồi làm nhà họp thôn của thôn Lũng Hoàn.


Trả lời: (Tại văn bản số 172/BC-STNMT ngày 25/11/2014 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Kạn)


Khu đất được giao cho Khu quản lý đường bộ II – Cục Đường bộ Việt Namđể sử dụng vào mục đích xây dựng công trình trụ sở làm việc Đội Thanh tra đường bộ I – 10, Thanh tra đường bộ Việt Namtại Quyết định số 462/QĐ-UBND ngày 27/3/2007 của UBND tỉnh Bắc Kạn và có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 460m2, tại tờ bản đồ số 19, xã Xuất Hóa, thị xã Bắc Kạn. Từ khi được giao đất cho đến nay đã không đưa đất vào sử dụng và xây dựng công trình theo dự án được phê duyệt vi phạm Điều 64 Luật đất đai năm 2013, Sở Tài nguyên và Môi trường sẽ thực hiện việc xử lý vi phạm và có văn bản trình UBND tỉnh thu hồi để giao cho địa phương quản lý theo quy định.

 

6. Cử tri Triệu Văn Nhiếp, thôn Nà Kẹn, xã Nông Thượng, thị xã Bắc Kạn phản ánh việc quy hoạch rừng và trồng rừng cần nghiên cứu các loại cây có trữ nước, để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và sản xuất cho người dân, nhất là rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Nếu trồng cây mỡ, hoặc cây keo nhiều thì nguồn nước dần cạn kiệt, ảnh hưởng đến đời sống của người dân.


Trả lời: (Tại văn bản số 401/BC-UBND ngày 4/12/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn)


          Việc Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 4040/2009/QĐ-UBND ngày 31/12/2009, trong đó có quy hoạch diện tích và danh mục các loài cây trồng cho từng loại rừng. Đối với rừng trồng phòng hộ, loài cây chính để trồng rừng hỗn giao là các loài cây bản địa:  Sấu, Trám, Lát, Sao....cùng với cây phù trợ; trồng thuần loài là các loài cây Mỡ, Keo, Thông...Đối với rừng trồng sản xuất, loài cây trồng chính là Keo, Thông, Mỡ, Trúc...

 

Việc trồng rừng của các hộ dân trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn hiện nay chủ yếu thông qua Dự án bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2020 của các huyện và thị xã Bắc Kạn. Trên cơ sở đơn đăng ký trồng rừng của các hộ dân, Ban QLDA các huyện chỉ đạo đơn vị tư vấn có đủ tư cách pháp nhân điều tra, khảo sát các yếu tố tự nhiên về đất đai, địa hình, khí hậu, thực bì....của từng lô rừng, kết hợp với các yếu tố liên quan khác (kết quả trồng rừng các năm tại địa phương, nhu cầu thị trường, nhu cầu của chủ rừng...) để tư vấn loài cây trồng rừng cho chủ rừng xem xét, quyết định. Hiện chưa có tài liệu, cơ sở khoa học nào dẫn chứng việc trồng loài cây Mỡ hoặc cây Keo nhiều thì nguồn nước dần cạn kiệt. Trong thời gian tới Sở Nông nghiệp và PTNT sẽ phối hợp với các ngành chức năng và chính quyền địa phương, nghiên cứu, đề xuất xây dựng quy hoạch Bảo vệ & Phát triển rừng tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2016 - 2020 định hướng đến năm 2030, trong đó có nghiên cứu đề xuất tập đoàn cây trồng phù hợp với từng vùng.

 

7. Cử tri Bùi Duy Vượng, thôn Nà Nàng, xã Nông Thượng, thị xã Bắc Kạn phản ánh hiện nay, nhiều xe ô tô có trọng tải lớn đi theo đường 259 (Nông Thượng – Sáu Hai) để tránh kiểm tra tải trọng do đó làm hỏng mặt đường và làm mất an toàn giao thông của người tham gia giao thông trên tuyến đường. Đề nghị các cơ quan chức năng kiểm tra, kiểm soát tải trọng xe có biện pháp thực hiện triệt để quy định của nhà nước.


Trả lời: (Tại văn bản số 401/BC-UBND ngày 4/12/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn)


Đoạn từ Chợ Mới – Thị xã Bắc Kạn, có 02 vị trí được phê duyệt đặt Trạm Kiểm tra tải trọng xe số 16, đó là Km116+100 QL.3 thuộc địa bàn xã Yên Đĩnh, huyện Chợ Mới và Km146+450 QL.3, thuộc địa bàn xã Xuất Hoá, thị xã Bắc Kạn. Vì là trạm lưu động, nên vị trí đặt trạm không cố định, khi Trạm KTTTX đặt tại lý trình Km116+100 QL.3, ít có tình trạng né tránh trạm đi theo ĐT 259. Khi Trạm KKTTX đặt tại lý trình Km146+450 QL.3, Tổ công tác tuần lưu, kiểm tra các tuyến đường tránh quanh trạm, cũng đã phát hiện và yêu cầu các xe quá tải né, tránh trạm cân di chuyển về nơi đặt trạm để tiến hành kiểm tra cân xe, xử lý vi phạm và yêu cầu hạ tải theo quy định. Tuy nhiên, do lực lượng còn mỏng, các phương tiện chủ ý trốn tránh thường đi vào ban đêm nên việc kiểm tra, xử lý còn gặp rất nhiều khó khăn. Trong thời gian tới, Sở Giao thông vận tải sẽ chỉ đạo Thanh tra Sở tăng cường lực lượng tuần lưu, xử lý nghiêm các trường hợp xe quá tải né trạm cân theo quy định.

 

8. Cử tri Triệu Đức Hiệt, thôn Nà Vịt, xã Nông Thượng, thị xã Bắc Kạn đề nghị kéo dài thời gian cho hộ nghèo và hộ cận nghèo vay vốn của ngân hàng chính sách xã hội từ 3 năm lên 5 năm. Hiện nay, thời gian cho vay vốn quá ngắn chưa phù hợp với thực tế phát triển sản xuất của người dân.


Trả lời: (Tại văn bản số 401/BC-UBND ngày 4/12/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn)


Chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Bắc Kạn thực hiện cho vay chương trình hộ nghèo theo Quyết định Thủ tướng Chính phủ việc xác định thời hạn cho vay căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay; chu kỳ sản xuất, kinh doanh (đối với cho vay sản xuất, kinh doanh, dịch vụ); khả năng trả nợ của hộ vay; nguồn vốn cho vay của NHCSXH, ví dụ: Đối tượng vay vốn trồng cây lương thực, hoa màu có thời gian sinh trưởng dưới 12 tháng, chăn nuôi gia cầm, dịch vụ, kinh doanh nhỏ thời hạn cho vay tối đa 12 tháng; Chăn nuôi gia súc sinh sản, chăm sóc cải tạo vườn cây ăn quả, cây công nghiệp  thời gian cho vay từ 24 đến 36 tháng; Trồng mới cây ăn quả, cây công nghiệp thời gian cho vay từ 36 đến 60 tháng;…

 

9. Cử tri Hoàng Hữu Sinh, thôn Tân Thành, xã Nông Thượng và Hà Đức Kiên, thôn Bản Pjạt, xã Xuất Hóa, thị xã Bắc Kạn đề nghị: nghiên cứu các loại cây trồng có giá trị kinh tế để hỗ trợ cây giống cho người dân. Hiện nay, tại thôn Tân Thành trồng cây Quế cho giá trị kinh tế cao hơn các loại cây mỡ, cây keo nhưng không được hỗ trợ giống.


Trả lời: (Tại văn bản số 401/BC-UBND ngày 4/12/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn)


Các hộ dân trồng rừng nếu thực hiện theo các dự án của Nhà nước (327, 661, 147.. và hiện nay là dự án Bảo vệ và Phát triển rừng giai đoạn 2011 – 2020) được hỗ trợ đầu tư theo chính sách quy định của Nhà nước. Loài cây trồng rừng cơ bản đã được xác định trong từng dự án của các huyện, thị xã. Tuy nhiên, căn cứ vào nhu cầu của người dân và tình hình thực tế tại mỗi địa phương, hàng năm trên cơ sở đề xuất của ngành chức năng, UBND tỉnh đã chỉ đạo bổ sung cơ cấu loài cây trồng rừng cho các huyện, thị xã (trong phương án sản xuất Nông nghiệp vụ Đông - Xuân hàng năm) để tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch trồng rừng. Đối với kế hoạch trồng rừng năm 2015, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã bổ sung loài cây Quế được phép trồng tại các huyện Chợ Mới, Chợ Đồn, Na Rì, Bạch Thông, Thị xã Bắc Kạn và các xã phía nam huyện Ba Bể thị xã Bắc Kạn (tại văn bản số 807/SNN-KHTC ngày 14/10/2014 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn).

 

Về chính sách hỗ trợ cho người dân trồng rừng sản xuất trên địa bàn tỉnh: Hiện đang thực hiện theo Thông tư Liên tịch số 03/2012/TTLT-BKHĐT-BNNPTNT-BTC ngày 05/6/2012 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ nông nghiệp và PTNT, Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Quyết định 147/2007/QĐ-TTg và Quyết định 66/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ. Do vậy, các hộ gia đình, cá nhân thuộc xã Nông Thượng và xã Xuất Hoá, thị xã Bắc Kạn (đối tượng ngoài xã đặc biệt khó khăn) tham gia trồng rừng thì được Nhà nước hỗ trợ mua cây giống thông qua Ban quản lý dự án bảo vệ và PTR thị xã Bắc Kạn với mức 2.250.000 đồng/ha. Tuy nhiên với mức hỗ trợ này, nếu trồng rừng tập trung bằng loài cây Quế (đơn giá cây giống được UBND tỉnh phê duyệt năm 2014 là 1.171đồng/cây), với mật độ 2.500 cây/ha thì mức hỗ trợ nêu trên không đủ tiền mua cây giống, phần còn thiếu (khoảng 970.000đ/ha) các hộ dân tự bố trí kinh phí.

 

10. Cử tri Hà Văn Thuần, Bí thư xã Xuất Hoá, thị xã Bắc Kạn đề nghị :


a. Các cơ quan chức năng chỉ đạo, phối hợp, kiểm tra việc thu phí sử dụng đường bộ để thực hiện có kết quả. Hiện nay, thực hiện thu phí năm 2014 còn gặp nhiều khó khăn.


Trả lời: (Tại văn bản số 401/BC-UBND ngày 4/12/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn)


Thu phí bảo trì đường bộ theo đầu phương tiện đối với xe mô tô: Tính từ 01/01/2014 đến 11/11/2014, phí sử dụng đường bộ trên đầu mô tô trên toàn tỉnh đã thu được 2.076,238 triệu đồng của 80/122 xã, phường thị trấn, còn 42 xã, phường, thị trấn chưa nộp. Nhìn chung, công tác tổ chức thu phí sử dụng đường bộ theo đầu phương tiện đối với xe mô tô, xe máy ở địa phương trên địa bàn tỉnh còn gặp nhiều khó khăn, số phí thu được thấp do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là do các cấp chính quyền địa phương chưa thật sự sát sao trong công tác tổ chức thu. Đồng thời, chế tài xử phạt đối với những đối tượng không nộp phí chưa có, chỉ kiểm tra, nhắc nhở. Đề nghị UBND các huyện, thị xã chỉ đạo UBND các xã, phường, thị trấn vận động các hộ gia đình nâng cao ý thức trách nhiệm với xã hội, với cộng đồng, tự giác khai, nộp phí đầy đủ; Đồng thời chỉ đạo lực lượng cảnh sát giao thông, thực hiện thường xuyên kiểm tra, phát hiện trường hợp chưa nộp phí thông báo về địa phương, nơi cư trú hoặc đơn vị công tác để làm cơ sở bình xét hàng năm. Sở Giao thông vận tải sẽ đề nghị Văn phòng Quỹ BTĐB có kế hoạch tuyên truyền và phối hợp với các địa phương, các sở, ban, ngành liên quan trên địa bàn tỉnh thực hiện nghiêm các quy định về thu phí sử dụng đường bộ tại địa phương.

 

b. Nghiên cứu giao đất lưu không cho chính quyền xã quản lý để tránh trường hợp một số hộ gia đình chiếm dụng về lâu dài khó giải quyết.


Trả lời: (Tại văn bản số 401/BC-UBND ngày 4/12/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn)


Đất dành cho đường bộ được thực hiện theo Nghị định 11/2010/NĐ-CP ngày 24/02/2010 của Chính phủ quy định về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, theo đó đất dành cho đường bộ sẽ do Sở Giao thông Vận tải giúp UBND tỉnh quản lý trên những tuyến đường tỉnh; UBND huyện quản lý trên những tuyến đường huyện, đường xã, đường đô thị và một số đơn vị khác quản lý trên những tuyến đường chuyên dùng. Không giao cho UBND cấp xã.

 

11. Cử tri Lý Kim Báo, thôn Tân Cư, xã Xuất Hóa, thị xã Bắc Kạn phản ánh: trại nuôi lợn của Ông Nam tại Thôn Tân Cư, xã Xuất Hóa gây ô nhiễm môi trường đã được cơ quan chức năng kiểm tra, nhắc nhở nhưng vẫn chưa được khắc phục. Hiện nay mức độ ô nhiễm rất nghiêm trọng đề nghị có biện pháp giải quyết dứt điểm. 


Trả lời: (Tại văn bản số 401/BC-UBND ngày 4/12/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn)


Sau khi nhận được phản ánh trên, ngày 13/11/2014 ngành chức năng đã phối hợp với Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Bắc Kạn, UBND xã Xuất Hóa tiến hành kiểm tra tại Trại nuôi lợn tập trung thuộc thôn Tân Cư, cụ thể:

 

- Trại chăn nuôi lợn tại thôn Tân Cư, xã Xuất Hóa là của ông Trần Văn Cường, Giám đốc Công ty cổ phần và xây dựng Vân Tùng được đầu tư xây dựng và chăn nuôi theo dự án xây dựng mô hình trang trại sản xuất lợn Móng Cái thuần chủng thuộc Trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ tỉnh Bắc Kạn làm chủ dự án. Do nhiều nguyên nhân, dự án đối với ông Trần Văn Cường không thực hiện được, nên ông Cường đã tự đầu tư chăn nuôi theo hộ gia đình cá nhân tự phát. Ngày 10/8/2013 ông Trần Văn Cường cho ông Nguyễn Văn Nam, trú tại số nhà 119, Tổ 1A, phường Đức Xuân thuê lại để đầu tư, chăn nuôi cho đến nay. Trong quá trình chăn nuôi lợn, ông Cường, ông Nam đã để chất thải, nước thải không qua xử lý chảy trực tiếp ra môi trường, UBND xã Xuất Hóa đã tiến hành kiểm tra nhắc nhở yêu cầu khắc phục tình trạng gây ô nhiễm, xử lý nước thải ô nhiễm, lập hồ sơ đề án bảo vệ môi trường trước ngày 15/8/2014.

 

Kết quả xử lý:

 

Sở Tài nguyên và Môi trường đã có Quyết định số 18/QĐ-XPHC ngày 27/11/2014 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đối với ông Trần Văn Cường, trú tại Tổ 10, phường Phùng Chí Kiên, thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, theo đó có các nội dung:

 

- Hình thức phạt chính: Phạt tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng Việt Nam).

 

- Hình thức phạt bổ sung: Đình chỉ hoạt động chăn nuôi sản xuất trại lợn của ông Trần Văn Cường trong thời gian 06 tháng, kể từ ngày xử phạt.

 

- Biện pháp khắc phục hậu quả: Thực hiện việc lập Bản cam kết bảo vệ môi trường theo quy định; xử lý lượng nước thải từ hoạt động chăn nuôi đã thải ra, khôi phục lại hiện trạng môi trường ban đầu trong thời gian 30 ngày, kể từ ngày 21/11/2014.

 

Quá thời hạn trên, nếu ông Trần Văn Cường không chấp hành, UBND tỉnh sẽ chỉ đạo ngành chức năng dùng biện pháp cưỡng chế khắc phục hậu quả, buộc tháo rỡ các tài sản: Nhà ở, nhà chăn nuôi lợn, xử lý ngay nước thải, chất thải đã thải ra môi trường tại khu vực xả thải và các công trình trên đất, khôi phục lại hiện trạng, theo mục đích sử dụng ban đầu.

 

12. Cử tri Nguyễn Đức Kháng, thôn Bản Pjạt, xã Xuất Hóa, thị xã Bắc Kạn đề nghị làm rõ nguyên nhân giải ngân Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới còn chậm.


Trả lời: (Tại văn bản số 401/BC-UBND ngày 4/12/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn)


Việc triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới còn chậm do một số nguyên nhân sau:

 

- Theo quy định của Chính phủ được Bộ Tài chính hướng dẫn, nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia năm 2014 được thực hiện và thanh toán vốn đầu tư đến hết ngày 30/6/2015.

 

- Công trình thực hiện đầu tư theo cơ chế đặc thù, giao cho Ban phát triển thôn lập dự toán, UBND xã thành lập tổ thẩm định để thẩm định dự toán và trình UBND xã phê duyệt. Đây là một vấn đề khó khăn, vướng mắc về trình độ năng lực, kinh nghiệm đối với Ban phát triển thôn và UBND xã. Tuy nhiên từ đầu tháng 6/2014, UBND các huyện, thị xã đã cử cán bộ của các phòng chuyên môn cấp huyện xuống xã hướng dẫn, giúp xã lập dự toán và thẩm định dự toán. Đến 30/10/2014 có gần 30 xã đã thi công xong, một số xã đang thi công, một số xã chờ thu hoạch xong mới thi công, một số xã còn lại đang điều chỉnh dự toán. Một số xã thi công xong nhưng chưa làm thủ tục tạm ứng và thanh toán dẫn đến giải ngân thấp.

 

13. Cử tri Triệu Văn Nhiếp, thôn Nà Kẹn, xã Nông Thượng, thị xã Bắc Kạn phản ánh trạm y tế xã Nông Thượng đã đạt chuẩn quốc gia về y tế. Tuy nhiên, năng lực khám, chữa bệnh của đội ngũ y, bác sĩ còn hạn chế, chủ yếu giới thiệu bệnh nhân chuyển tuyến trên. Đề nghị quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ y, bác sĩ của trạm y tế xã.


Trả lời: (Tại văn bản số 401/BC-UBND ngày 4/12/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn)


Sau khi có phản ảnh của cử tri, Sở Y tế và Trung tâm Y tế thị xã đã thành lập đoàn kiểm tra trực tiếp xuống xác minh tại Trạm y tế xã Nông Thượng. Hiện tại biên chế của trạm có 5 cán bộ, trong đó có 4 y sỹ đa khoa, 01 điều dưỡng trung cấp kiêm công tác dược; Rà soát trên danh sách lưu trong sổ KCB từ đầu năm đến tháng 11 năm 2014 tỷ lệ chuyển tuyến trên là 2150/2794 (chiếm78,2%). Căn cứ vào chức năng nhiệm vụ của Trạm y tế và đối chiếu lý do chuyển tuyến trên của Trạm y tế, xét thấy việc chuyển tuyến như thế là quá cao và nhiều trường hợp không nhất thiết phải chuyển. Để khắc phục tình trạng này, trong thời gian tới Sở Y tế sẽ chỉ đạo Trung tâm Y tế thị xã có biện pháp hỗ trợ chuyên môn nhằm làm tốt hơn trong công tác khám chữa bệnh,đáp ứng nhu cầu Chăm sóc sức khỏe nhân dân hạn chế chuyển tuyến như phản ảnh của cử tri.          

 

Tác giả:  Huy Nhân (tổng hợp)
Sign In