Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Nâng cao hiệu quả công tác sắp xếp tổ chức bộ máy và quản lý, sử dụng, tinh giản biên chế trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh

( Cập nhật lúc: 20/07/2020  )
Thực hiện Nghị quyết số 30/NQ-HĐND ngày 07/12/2019 của HĐND tỉnh về việc thành lập Đoàn Giám sát công tác sắp xếp tổ chức bộ máy và quản lý, sử dụng, tinh giản biên chế trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh. Đoàn đã tổ chức giám sát trực tiếp tại 04 huyện, thành phố và một số sở ngành. Tại kỳ họp thứ 16 HĐND tỉnh khóa IX, Đoàn đã báo cáo kết quả giám sát trước kỳ họp thứ 16 HĐND tỉnh khóa IX theo quy định.

 

Đồng chí Hoàng Thu Trang báo cáo kết quả giám sát tại kỳ họp thứ 16

 

Qua giám sát cho thấy, thực hiện Đề án số 03-ĐA/TU ngày 10/5/2017 của Tỉnh ủy Bắc Kạn, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 305/KH-UBND ngày 10/8/2017 về sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy và tinh giản biên chế giai đoạn 2016 - 2021. Qua 03 năm thực hiện, cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh và tương đương giảm từ 22 xuống còn 20 cơ quan (giảm 02 cơ quan); các đơn vị trực thuộc sở giảm từ 14 chi cục xuống còn 11 chi cục (giảm 03 chi cục), giảm từ 135 phòng chuyên môn thuộc sở xuống còn 100 phòng (giảm 35 phòng). Cấp huyện giảm từ 104 phòng, ban chuyên môn xuống còn 88 phòng, ban (giảm 16 phòng, ban); Hội đồng nhân dân 06/08 huyện, thành phố ban hành Nghị quyết bãi bỏ Ban Dân tộc HĐND, chuyển chức năng, nhiệm vụ của Ban Dân tộc sang Ban Kinh tế - Xã hội HĐND huyện. Đối với cấp xã khi thực hiện Nghị quyết số 855/NQ-UBTVQH14 ngày 10/01/2020 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, số đơn vị hành chính giảm từ 122 đơn vị xuống còn 108 đơn vị (giảm 14 đơn vị). Đối với thôn, tổ dân phố giảm từ 1.421 thôn, tổ dân phố xuống còn 1.310 thôn, tổ dân phố (giảm 111 thôn, tổ dân phố). Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc UBND tỉnh giảm từ 09 đơn vị xuống còn 06 đơn vị (giảm 03 đơn vị); đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cơ quan chuyên môn cấp tỉnh giảm từ 102 đơn vị xuống còn 68 đơn vị (giảm 34 đơn vị). Đơn vị sự nghiệp công lập cấp huyện giảm từ 370 đơn vị xuống còn 336 đơn vị (giảm 34 đơn vị). Hiện nay, có 364/410 đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên, 25 đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên và 21 đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên.

 

Năm 2020 biên chế công chức của tỉnh là 1512 biên chế, giảm 189 biên chế công chức so với năm 2015 (trong đó cắt giảm theo tỷ lệ 10% là 94 biên chế, tinh giản theo nghị định số 108/2014/NĐ-CP và Nghị định số 113/2018/NĐ-CP là 46 biên chế, 49 biên chế chuyển về Bộ Công thương). Biên chế viên chức là 9.628 biên chế, giảm 820 biên chế so với năm 2015 (trong đó cắt giảm theo tỷ lệ 10% là 733 biên chế, tinh giản theo nghị định số 108/2014/NĐ-CP và Nghị định số 113/2018/NĐ-CP là 87 biên chế). Hợp đồng lao động theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP là 405 chỉ tiêu, giảm 23 chỉ tiêu so với năm 2015 (trong đó cắt giảm theo tỷ lệ 10% là 16 chỉ tiêu, tinh giản theo nghị định số 108/2014/NĐ-CP và Nghị định số 113/2018/NĐ-CP là 07 chỉ tiêu).

 

Theo đó, tổ chức bộ máy từng bước tinh gọn, việc quản lý và sử dụng biên chế hiệu quả hơn. Công tác đào tạo, bồi dưỡng, tiếp nhận, điều động, luân chuyển, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, thực hiện chế độ, chính sách cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động được quan tâm thực hiện theo quy định. Công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo liên quan đến tổ chức bộ máy, quản lý biên chế được quan tâm chỉ đạo thực hiện. Qua đó góp phần tích cực vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị ở từng địa phương, cơ quan, đơn vị và tiết kiệm cho ngân sách nhà nước.

 

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác sắp xếp tổ chức bộ máy và quản lý, sử dụng, tinh giản biên chế trong cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh còn một số hạn chế đã được Đoàn giám sát chỉ ra như: Công tác tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước về sắp xếp tổ chức bộ máy tại một số nơi chưa sâu rộng nên một số cán bộ, công chức, viên chức, người lao động ở đơn vị còn băn khoăn khi thực hiện sắp xếp. Chưa tổ chức đánh giá việc sắp xếp tổ chức bộ máy và thực hiện đề án vị trí việc làm, tinh giản biên chế. Việc sắp xếp các cơ quan, đơn vị cơ bản mang tính ghép cơ học; cơ sở vật chất tại một số đơn vị sau sắp xếp sử dụng chưa thực sự hiệu quả. Việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của một số cơ quan, đơn vị sau sắp xếp còn lúng túng, một số lĩnh vực, nhiệm vụ sau sắp xếp chưa được quan tâm thực hiện. Việc giao tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập có khả năng khai thác nguồn thu chưa kịp thời bảo đảm các điều kiện cần thiết để giúp các đơn vị thực hiện tốt nhiệm vụ có thu. Đề án vị trí việc làm chưa làm rõ được cơ cấu công chức trong từng đơn vị, chưa xác định được số lượng biên chế cần thiết của từng cơ quan, đơn vị, danh mục vị trí việc chủ yếu làm cơ sở tuyển dụng biên chế. Một số đơn vị việc bố trí, sử dụng biên chế chưa gắn với vị trí việc làm được phê duyệt hoặc sử dụng biên chế có trình độ chuyên môn chưa phù hợp với khung năng lực vị trí việc làm đã được phê duyệt. Việc rà soát sử dụng biên chế để xây dựng phương án sắp xếp, phân công người làm việc phù hợp với khối lượng công việc và việc sử dụng biên chế giữa các phòng, ban, đơn vị trực thuộc trong một sở, UBND cấp huyện chưa thực sự phù hợp. Việc thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp hoặc chuyển xếp chức danh nghề nghiệp đối với viên chức tại một số đơn vị chưa kịp thời, có đơn vị chưa thực hiện được. Chưa kịp thời quy định tiêu chuẩn về trình. Công tác giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của một số công dân liên quan đến việc giải quyết chế độ, chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động còn lúng túng, chưa kịp thời nên còn tình trạng khiếu nại, tố cáo kéo dài. Công tác tinh giản biên chế chưa thực sự đáp ứng yêu cầu, cắt giảm biên chế, tinh giản biên chế công chức mới được 46/189 biên chế cắt giảm (chiếm 24,3 %), tinh giản viên chức được 87/820 biên chế cắt giảm (chiếm 10,6%). Việc cắt giảm biên chế tại các Sở, ngành và UBND cấp huyện chưa phù hợp, chủ yếu thực hiện cắt giảm số biên chế được giao chưa tuyển dụng. Công tác tinh giản biên chế chưa gắn với công tác đánh giá cán bộ, công chức, viên chức, người lao động.

 

Nguyên nhân của những hạn chế trên chủ yếu là do:  Một số quy định của pháp luật chưa có hướng dẫn cụ thể hoặc chưa ban hành kịp thời gây khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện tại địa phương. Người đứng đầu một số cơ quan, đơn vị, địa phương đôi khi chưa nhận thức đúng yêu cầu, mục tiêu và chưa thực hiện hết trách nhiệm trong công tác sắp xếp tổ chức bộ máy và quản lý, sử dụng, tinh giản biên chế. Công tác sơ kết, đánh giá sau sắp xếp tổ chức bộ máy chưa được quan tâm, do đó những khó khăn, vướng mắc trong thực hiện chưa được khắc phục kịp thời. Việc xây dựng Đề án vị trí việc làm và tham mưu, đề xuất phân bổ chỉ tiêu biên chế ở một số cơ quan, đơn vị chưa sát với thực tế thực hiện nhiệm vụ. Người đứng đầu một số cơ quan, đơn vị chưa quyết liệt trong công tác đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức, viên chức, người lao động hàng năm nên chưa tinh giản được người không có đủ năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ.

 

Để nâng cao hiệu quả công tác sắp xếp tổ chức bộ máy và quản lý, sử dụng, tinh giản biên chế trong cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới, Đoàn giám sát kiến nghị một số nội dung, cụ thể:

 

Đối với Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh: Kiến nghị với Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành liên quan xem xét nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số nội dung còn bất cập, chưa thống nhất.

 

Đối với UBND tỉnh: Tổ chức sơ kết, đánh giá công tác sắp xếp tổ chức bộ máy, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị. Đánh giá mô hình tổ chức và hiệu quả hoạt động của một số cơ quan, đơn vị. Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương phối hợp thực hiện tốt nhiệm vụ được giao nhất là giữa cơ quan chuyên môn cấp tỉnh với cấp huyện. Xem xét phân cấp tuyển dụng công chức, viên chức theo quy định. Thực hiện tuyển dụng công chức, viên chức kịp thời, đủ số biên chế được giao trên cơ sở nhu cầu tuyển dụng của các cơ quan, đơn vị. Kiên quyết thu hồi biên chế khi các cơ quan, đơn vị, địa phương không thực hiện đăng ký nhu cầu tuyển dụng trong số biên chế được giao chưa có mặt hoặc sử dụng không có hiệu quả. Chỉ đạo rà soát tổng thể vị trí việc làm và chức năng, nhiệm vụ tại các cơ quan, đơn vị để có phương án xây dựng vị trí việc làm theo quy định Nghị định số 62/2020/NĐ-CP ngày 01/6/2020 của Chính phủ về vị trí việc làm và biên chế công chức. Chỉ đạo, hướng dẫn chuyển xếp chức danh nghề nghiệp kịp thời. Việc tinh giản biên chế hàng năm để bảo đảm đến năm 2021 giảm 10% so với số biên chế giao năm 2015 cần tính đến yếu tố đặc thù, thực tế thực hiện nhiệm vụ. Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương nghiêm túc thực hiện việc đánh giá xếp loại cán bộ, công chức, viên chức, hợp đồng lao động theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP hằng năm sát với tiêu chí đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức, người lao động để thực hiện tinh giản đúng quy định. Chỉ đạo và giải quyết dứt điểm đơn thư khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài liên quan đến chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động.

 

Đối với các sở, ngành: Tiếp tục rà soát lại cơ cấu tổ chức của các phòng, ban, đơn vị trực thuộc để xây dựng phương án sắp xếp theo Đề án số 03/ĐA-TU của Tỉnh ủy. Rà soát lại hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất của các đơn vị trực thuộc sau sắp xếp để có phương án sử dụng hiệu quả, tránh lãng phí. Rà soát chức năng, nhiệm vụ của các phòng, ban chuyên môn, đơn vị sự nghiệp công lập để điều chỉnh, bố trí, sử dụng biên chế phù hợp với khối lượng công việc thực tế trên cơ sở biên chế được cấp có thẩm quyền giao.

 

Đối với UBND cấp huyện: Chỉ đạo cơ quan, đơn vị trực thuộc rà soát chức năng, nhiệm vụ được giao tại các đơn vị trực thuộc để điều chỉnh bổ sung cho phù hợp, đúng luật định. Đồng thời bố trí, sử dụng biên chế phù hợp với khối lượng công việc thực tế trên cơ sở biên chế được cấp có thẩm quyền giao và phân công nhiệm vụ cho công chức, viên chức triển khai đầy đủ chức năng, nhiệm vụ theo quy định. Quy định cụ thể cơ chế phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ giữa phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp đảm bảo không chồng chéo về chức năng nhiệm vụ và thực hiện tốt chức năng chuyên ngành. Xây dựng phương án, lộ trình bố trí, sắp xếp số lượng cán bộ, công chức cấp xã theo quy định tại Nghị định số 34/2019/NĐ-CP ngày 24/4/2019 của Chính phủ. Chủ động bố trí, sắp xếp cán bộ, công chức cấp xã dôi dư khi thực hiện Nghị quyết số 855/NQ-UBTVQH14 ngày 10/01/2020 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Đề án bố trí Công an chính quy đảm nhiệm các chức danh Công an xã.

 

Để khắc phục những tồn tại, hạn chế Đoàn Giám sát đã nêu, tại kỳ họp thứ 16 HĐND tỉnh đã thông qua Nghị quyết về nâng cao hiệu quả công tác sắp xếp tổ chức bộ máy và quản lý, sử dụng, tinh giản biên chế trong cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh.

Tác giả:  Phùng Mai, Văn phòng Đoàn ĐBQH, HĐND và UBND tỉnh
Sign In