Skip Ribbon Commands
Skip to main content

HĐND tỉnh Bắc Kạn - 70 năm xây dựng và phát triển

( Cập nhật lúc: 26/10/2019  )
Ngày 25/10/1949, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Bắc Kạn đã vượt qua mọi khó khăn, thiếu thốn, tổ chức thành công cuộc bầu cử HĐND tỉnh đầu tiên sau giải phóng. Đây là một trong những dấu mốc quan trọng trong việc xây dựng bộ máy chính quyền ở Bắc Kạn, góp phần vào sự nghiệp cách mạng chung của cả nước.

 

               Đồng chí Nguyễn Văn Du, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh


Chặng đường xây dựng và phát triển

 

Ngày 24/8/1949, tỉnh Bắc Kạn được giải phóng. Đây là sự kiện trọng đại, là mốc son lịch sử mở ra giai đoạn mới trong công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc Bắc Kạn. Ngay sau khi được giải phóng hoàn toàn, công việc đầu tiên của Đảng bộ tỉnh là nhanh chóng ổn định tình hình, củng cố, kiện toàn bộ máy lãnh đạo của Đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp. Ngày 10/8/1949, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Chỉ thị 4TV/Bắc Kạn “về các việc mà Đảng bộ Bắc Kạn phải gấp rút làm ngay sau khi địch đã rút khỏi thị xã Bắc Kạn”. Chỉ thị nêu rõ: “Đảng bộ địa phương phải nắm lấy nhân dân, giữ vững các tổ chức quần chúng, gấp rút củng cố chính quyền, các cơ sở quần chúng ở những nơi địch vừa rút chạy. Các Đảng bộ phải chú ý công tác phòng gian bảo mật, đề phòng Việt gian phản động trà trộn vào chính quyền”. Ngày 18/9/1949, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Chỉ thị về bầu cử HĐND tỉnh, trong đó nêu rõ có thể đưa những người có đủ tư cách và năng lực ở 6 huyện, thị kể cả người trước đây tham gia chính quyền địa phương của địch ứng cử vào HĐND tỉnh, đồng thời yêu cầu các cấp bộ Đảng phải làm một số việc cần kíp trong dịp bầu cử.  

 

Được sự chuẩn y của Bộ Nội vụ, tỉnh Bắc Kạn đã tiến hành bầu cử HĐND tỉnh vào ngày 25/10/1949, đây là cuộc bầu cử HĐND tỉnh đầu tiên sau giải phóng (24/8/1949). Thành phần người dân tộc trong HĐND tỉnh được quan tâm, thể hiện sự đoàn kết toàn dân trong kháng chiến. Trong số 20 đại biểu của HĐND tỉnh khi ấy có 16 đại biểu người Tày, 3 đại biểu người Dao và 1 đại biểu người Kinh. Lúc này, HĐND tỉnh chưa có các Ban, cơ quan giúp việc, hình thức hoạt động của HĐND chủ yếu là ở các kỳ họp.  

 

Giai đoạn 1949-1954: Với chức năng quyết định, HĐND cùng với Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh kịp thời đề ra chủ trương, chỉ đạo nhân dân các dân tộc trong tỉnh tích cực huy động sức người, sức của đóng góp, tham gia các chiến dịch lớn như Chiến dịch Biên giới 1950, Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954. Đồng thời, phát động phong trào toàn dân, toàn quân đẩy mạnh tăng gia sản xuất như: “Phong trào cấy lúa Chiêm và Nam Ninh; phong trào cải tiến kỹ thuật, cày ải, bón phân, cấy nhỏ rảnh; phong trào đào mương phai; phong trào đổi công; phong trào giồng sắn chống nạn thiếu ăn; phong trào giồng bông trên cánh đồng Mán”… góp phần vào chiến thắng chung của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

 

Giai đoạn 1954-1965: Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, phát huy truyền thống cách mạng của quê hương, thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, Tỉnh ủy, HĐND tỉnh kịp thời cụ thể hóa và quyết định những nhiệm vụ quan trọng để lãnh đạo quân và dân Bắc Kạn vừa tập trung khôi phục sản xuất, xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, tham gia chống chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ, vừa chi viện sức người, sức của cho cách mạng miền Nam. Giai đoạn này, tổ chức HĐND tỉnh đã từng bước được hoàn thiện, tuy chưa thành lập được các Ban giúp việc, nhưng hoạt động của HĐND tỉnh tiếp tục có bước đổi mới, phù hợp, đáp ứng yêu cầu của tình hình thực tiễn. Nhiều chính sách quan trọng được HĐND tỉnh kịp thời ban hành để tập trung khôi phục sản xuất, khắc phục nạn đói, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tiếp tục củng cố chính quyền và lực lượng vũ trang, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ vừa kháng chiến, vừa kiến quốc đầy khó khăn, gian khổ như: Ban hành nghị quyết xây dựng một số công trình trung thủy nông: Thanh Bình, Toàn Thắng, Mỹ Thanh (Bạch Thông), Cao Thượng, Bành Trạch (Chợ Rã), Nam Cường, Nặm Cảng (Chợ Đồn), Lương Thượng (Na Rì); xây dựng tuyến đường ô tô Bắc Kạn - Na Rì và đường Chợ Rã - Ba Bể; xây dựng xí nghiệp sản xuất đường ở Chợ Mới, nhà máy bột giấy 62… Để đảm bảo thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch hằng năm, HĐND tỉnh cũng đã ban hành nghị quyết về các cuộc vận động cải tiến quản lý Hợp tác xã; vận động đồng bào vùng cao xuống núi định cư định canh, đồng thời đón tiếp đồng bào miền xuôi lên phát triển kinh tế, văn hóa ở miền núi; thu hẹp diện nhân khẩu phi sản xuất bằng cách vận động gia đình, vợ con cán bộ, nhân dân thị xã, thị trấn chưa có công ăn việc làm ổn định về nông thôn sản xuất nông nghiệp…

 

Trước yêu cầu, nhiệm vụ chính trị trong tình hình mới, ngày 21/4/1965, Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn việc hợp nhất hai tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên thành tỉnh Bắc Thái. Giai đoạn này, mô hình tổ chức của HĐND đã được tổ chức ở cả 3 cấp: tỉnh, huyện, xã. Theo đó, HĐND tỉnh Bắc Thái và HĐND các huyện, xã trên địa bàn tỉnh đã cùng với chính quyền, nhân dân các dân tộc chung sức phấn đấu thực hiện nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà; thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo; xứng đáng với sự tin cẩn của các cử tri.

 

Ngày 01/01/1997, Bắc Kạn được tái lập tỉnh, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, sự đoàn kết thống nhất của hệ thống chính trị và nhân dân đã giúp Bắc Kạn từng bước vượt qua khó khăn, đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng và an ninh. Thời kỳ đầu mới tái lập tỉnh, hoạt động của HĐND tỉnh sau khi chia tách từ HĐND tỉnh Bắc Thái gặp rất nhiều khó khăn từ cơ sở vật chất, nhân lực, kinh nghiệm và kinh phí hoạt động. Nhưng với sự hỗ trợ từ Trung ương, sự chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh ủy, sự ủng hộ của nhân dân đã tiếp thêm sức mạnh cho mỗi đại biểu dân cử hoàn thành tốt trách nhiệm được Đảng, nhân dân giao phó. Dựa trên tình hình thực tế của địa phương, HĐND tỉnh đã xem xét thông qua các nghị quyết nhằm củng cố, xây dựng bộ máy hành chính, phát triển kinh tế, xã hội, xóa đói, giảm nghèo và bảo đảm quốc phòng và an ninh.

        

Từ năm 1997 đến nay, qua 5 lần bầu cử và gần 5 nhiệm kỳ hoạt động với 78 kỳ họp, HĐND tỉnh đã từng bước được hoàn thiện. Giai đoạn này, tổ chức, bộ máy của HĐND tỉnh ngày càng được củng cố, kiện toàn với đầy đủ Thường trực và các Ban, cơ quan giúp việc, số lượng, chất lượng đại biểu chuyên trách được nâng lên, đáp ứng tốt hơn vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương trong thời kỳ cách mạng mới. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy, sự điều hành, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả của UBND tỉnh, sự phối hợp chặt chẽ của Ủy ban MTTQ và các cơ quan, đoàn thể, kế thừa những kinh nghiệm và hoạt động của khóa trước cùng với việc từng bước đổi mới nội dung và phương pháp hoạt động, HĐND tỉnh đã vận dụng sáng tạo chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào thực tiễn địa phương, ban hành nhiều nghị quyết, chính sách quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh, quyết định các biện pháp giải quyết những vấn đề phát sinh trong thời gian giữa các kỳ họp, quyết định các cơ chế chính sách đặc thù của địa phương. Đến nay, sau 22 năm tái lập và gần 4 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XI Đảng bộ tỉnh, tỉnh ta đã đạt được kết quả quan trọng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Tổng sản phẩm năm 2018 (theo giá so sánh năm 2010) đạt 6.641 tỷ đồng; thu ngân sách đạt 643 tỷ đồng, tăng 42,8 lần so với năm 1997; GRDP bình quân đầu người năm 2018 đạt 30,5 triệu đồng, tăng gấp 24,4 lần so với năm 1997. Toàn tỉnh có 15 xã đạt chuẩn nông thôn mới… Những kết quả này cho thấy sự đóng góp của HĐND tỉnh vào sự nghiệp chung của tỉnh, đồng thời cũng là động lực để mỗi đại biểu nỗ lực cống hiến xứng đáng là người đại biểu nhân dân.

 

Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động

 

Để phát huy hơn nữa vai trò là cơ quan quyền lực của nhà nước tại địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, tháng 11 năm 2016, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết số 14-NQ/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND các cấp. Thực hiện nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thường trực HĐND, các Ban HĐND tỉnh và HĐND các huyện, thành phố, các xã, phường, thị trấn đã tập trung thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động của cơ quan dân cử. Qua đó, đa số các kỳ họp của HĐND các cấp được tổ chức đảm bảo theo đúng luật định, có chất lượng; các Nghị quyết do HĐND ban hành đảm bảo hợp Hiến, hợp pháp, phù hợp với thực tiễn, được phổ biến, tuyên truyền đến các cơ quan, đơn vị, địa phương và nhân dân. Cơ bản kiến nghị sau giám sát của HĐND, Thường trực, các Ban HĐND các cấp đảm bảo cụ thể, khả thi, đúng quy định của pháp luật. Các ý kiến, kiến nghị của cử tri, đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân được Thường trực HĐND các cấp tổng hợp đầy đủ, kịp thời chuyển đến đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Công tác tập huấn cho đại biểu HĐND các cấp được chú trọng thực hiện.

 

Việc thực hiện chức năng quyết định của HĐND tỉnh được nâng cao qua từng giai đoạn. Nhiệm kỳ 2004 - 2011, HĐND tỉnh ban hành được 60 nghị quyết; đến nhiệm kỳ 2011- 2016, ban hành được 181 nghị quyết và từ đầu nhiệm kỳ 2016 - 2021 đến nay, đã ban hành 169 nghị quyết về các lĩnh vực của đời sống. Đa số nghị quyết chuyên đề của HĐND tỉnh ban hành đều đảm bảo tính khả thi và phát huy hiệu quả, thể chế hoá kịp thời chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và phù hợp với tình hình thực tế, phát huy được tiềm năng, thế mạnh góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, được nhân dân đồng tình ủng hộ.

 

Hoạt động giám sát tiếp tục có sự đổi mới và không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động. Điều này được thể hiện qua sự chuẩn bị kỹ lưỡng đề cương giám sát, các thành viên giám sát của HĐND các cấp chủ động tìm hiểu chính sách, pháp luật có liên quan đến nội dung giám sát, các vấn đề giám sát được chọn là những vấn đề nổi cộm, trọng tâm, trọng điểm, những vấn đề mang tính thời sự của địa phương được cử tri, dư luận quan tâm, tổ chức khảo sát trước khi giám sát để tăng hiệu quả. Sau giám sát, HĐND các cấp đều ra các kiến nghị yêu cầu các đơn vị, địa phương khắc phục những hạn chế, bất cập hoặc sửa đổi, bổ sung các chế độ, chính sách.

 

Hoạt động tiếp xúc cử tri đổi mới cả về diện, lượng và chất. Không chỉ tiếp thu và trả lời tại buổi tiếp xúc, nhiều đề xuất, kiến nghị của cử tri đã được đại biểu HĐND tổng hợp chuyển đến các cơ quan chức năng giải quyết. Nội dung trả lời, giải quyết kiến nghị cử tri được đăng tải rộng rãi trên phương tiện thông tin đại chúng của địa phương để người dân dễ nắm bắt.

 

Có thể thấy, sau 70 năm xây dựng và trưởng thành, HĐND tỉnh thật sự là cơ quan đại diện của dân, hoạt động của đại biểu dân cử, của cơ quan dân cử được cử tri quan tâm, được hệ thống chính trị ủng hộ, đã tác động tích cực đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, góp phần đưa Bắc Kạn tiến lên theo con đường đổi mới cùng đất nước.

Tác giả:  Nguyễn Văn Du, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh
Sign In