Skip Ribbon Commands
Skip to main content

ĐBQH tỉnh Bắc Kạn thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp

( Cập nhật lúc: 22/05/2020  )
Theo Chương trình của Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV, chiều ngày 21/5/2020, Quốc hội thảo luận trực tuyến về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp. Tại điểm cầu Bắc Kạn, bà Hồ Thị Kim Ngân, Giám đốc Sở Tư pháp, ĐBQH tỉnh tham gia phát biểu ý kiến.

 

 

Tại phiên thảo luận, bà Ngân bày tỏ sự đồng tình với những nội dung đã được tiếp thu, chỉnh lý, đồng thời tham gia góp ý một số nội dung của dự án Luật.

 

Thứ nhất, quy định về quyền của giám định viên tư pháp trong việc từ chối tiếp nhận giám định, bà Ngân cho rằng, để đảm bảo việc sử dụng quyền từ chối được đúng đắn, không cản trở đến hoạt động giám định và yêu cầu hoạt động tố tụng, dự thảo Luật đã hoàn thiện nội dung liên quan đến quyền từ chối tiếp nhận giám định (sửa đổi khoản 2 Điều 11, khoản 1 Điều 24), bổ sung và tách bạch từ chối thực hiện giám định của người giám định khi thực hiện giám định tư pháp (sửa đổi, bổ sung Điều 23 Luật). Tuy nhiên, cùng với những nội dung được hoàn thiện, thì quy định liên quan đến quyền từ chối tiếp nhận giám định vẫn cần xem xét, cân nhắc thêm một số vấn đề sau:

 

Một, yêu cầu cụ thể những lý do chuyên môn để người giám định tư pháp được quyền từ chối tiếp nhận giám định vẫn chưa được giải quyết triệt để, cụ thể là quy định về việc không đủ năng lực cần thiết cho việc thực hiện giám định. Theo quy định của Luật, để bổ nhiệm giám định viên tư pháp, phải đáp ứng những tiêu chuẩn hết sức cụ thể, qua đó phần nào thể hiện năng lực chuyên môn trong thực hiện nhiệm vụ giám định (có trình độ, kinh nghiệm chuyên môn). Như vậy, “năng lực” được đề cập tới trong dự thảo sẽ được thể hiện qua những thước đo nào để đảm bảo việc áp dụng được thống nhất, tránh sự tùy tiện, ảnh hưởng đến hoạt động giám định và công tác tố tụng.

 

Hai, quy định về trưng cầu giám định đối với người ngoài danh sách (Khoản 2, Điều 20) nhằm giải quyết vấn đề thực tiễn, khi người trưng cầu giám định có nhu cầu thực hiện việc giám định, nhưng lĩnh vực đó không có giám định viên theo vụ việc thuộc Danh sách được công bố. Tuy nhiên, liên quan đến nội dung này, phát sinh một số khía cạnh, cần được nghiên cứu, giải quyết như: Cơ sở nào để người trưng cầu giám định xác định cá nhân, tổ chức chuyên môn có đủ “điều kiện” thực hiện giám định? Trong trường hợp này liệu có thể hiểu có đủ điều kiện là cá nhân, tổ chức đáp ứng điều kiện, tiêu chuẩn quy định tại Điều 18, Điều 19 của Luật Giám định tư pháp không (chưa kể đây chỉ là một phần điều kiện về mặt chủ thể, còn các điều kiện khác như trang thiết bị, phương tiện và các điều kiện để đảm bảo thực hiện công tác giám định thì xem xét ở mức độ nào để coi là đủ điều kiện). Đặc biệt, liên quan đến vấn đề từ chối tiếp nhận giám định, trong trường hợp cá nhân được trưng cầu lấy lý do là không có năng lực, điều kiện cần thiết để từ chối tiếp nhận giám định thì việc từ chối này có được coi là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 11 Luật sửa đổi, bổ sung không? (vì Luật chỉ đang xây dựng từ chối tiếp nhận giám định đối với giám định viên tư pháp (sửa đổi khoản 2 Điều 11), tổ chức được yêu cầu, trung cầu giám định(sửa đổi, bổ sung Điều 24); và năng lực, điều kiện cần thiết cụ thể đối với trường hợp này như thế nào?

 

Ba, thay vì từ chối ngay khi đối tượng, tài liệu liên quan được cung cấp không đủ hoặc không có giá trị để kết luận giám định, dự thảo quy định việc từ chối khi đối tượng giám định, tài liệu liên quan được cung cấp không đầy đủ hoặc không có giá trị để kết luận giám định sau khi đã đề nghị người trưng cầu, người yêu cầu giám định bổ sung, làm rõ nhưng không được đáp ứng. Quy định này vô hình chung làm giảm trách nhiệm của người trưng cầu giám định trong việc cung cấp tài liệu ngay khi trưng cầu giám định. Nội dung này cũng cần được làm rõ.

 

Mặt khác, để đảm bảo không ảnh hưởng đến các hoạt động liên quan, quy định việc từ chối giám định phải được thực hiện trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định trưng cầu hoặc yêu cầu giám định là cần thiết. Tuy nhiên, khi từ chối giám định trong trong trường hợp tài liệu liên quan được cung cấp không đầy đủ hoặc không có giá trị để kết luận giám định sau khi đã đề nghị người trưng cầu, người yêu cầu giám định bổ sung, làm rõ nhưng không được đáp ứng cần được nghiên cứu, cân nhắc về thời hạn này, đảm bảo điều kiện khẳng định việc yêu cầu bổ sung, làm rõ nhưng không được đáp ứng.

 

Thứ hai, về kết luận giám định tư pháp và tổ chức phối hợp thực hiện việc giám định: Theo quy định tại khoản 14 dự thảo (bổ sung khoản 4 Điều 25), trường hợp các nội dung giám định liên quan đến nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau, thuộc trách nhiệm của nhiều cơ quan, tổ chức mà việc tách riêng từng nội dung gây khó khăn cho việc thực hiện giám định thì người trưng cầu phải xác định tổ chức chủ trì việc giám định và tổ chức phối hợp thực hiện việc giám định và việc giám định trong trường hợp này được thực hiện theo hình thức giám định tập thể thuộc nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau quy định tại khoản 3 Điều 28 của Luật này (tức là khi thực hiện giám định mỗi người giám định thực hiện phần việc giám định thuộc lĩnh vực chuyên môn của mình và chịu trách nhiệm cá nhân về phần kết luận giám định đó). Tuy nhiên tại nội dung bổ sung của Điều 25 lại chưa quy định về trách nhiệm của tổ chức thực hiện giám định, trong việc ký tên, đóng dấu vào bản kết luận giám định đảm bảo sự đồng bộ với quy định tại khoản 2 Điều 32 sửa đổi, bổ sung nêu trên (“ngoài chữ ký, họ và tên của người giám định, người đứng đầu tổ chức còn phải ký tên, đóng dấu vào bản kết luận giám định và tổ chức được trưng cầu, yêu cầu phải chịu trách nhiệm về kết luận giám định”). Và như vậy, trách nhiệm của tổ chức được trưng cầu giám định (bao gồm tổ chức chủ trì và tổ chức phối hợp) trong trường hợp này sẽ được xác nhận như thế nào để đảm bảo phù hợp với quy định tại Điều 24 sửa đổi, bổ sung tổ chức được trung cầu, yêu cầu giấm định “chịu trách nhiệm về kết luận giám định do minh đưa ra”.

 

Thứ ba, về thời hạn giám định (khoản 15 Điều 1 dự thảo, bổ sung Điều 26a), bà Ngân Đề nghị nghiên cứu, xem xét lại nội dung quy định của khoản 3 và khoản 5 Điều 26a dự thảo Luật do có điểm chưa rõ ràng, thống nhất: Khoản 3 Điều 26a dự thảo Luật quy định: Thời hạn giám định tư pháp đối với các trường hợp khác tối đa là 03 tháng. Trong trường hợp vụ việc giám định có tính chất phức tạp hoặc khối lượng công việc lớn thì thời hạn giám định tối đa là 04 tháng. Thời hạn giám định có thể được gia hạn theo quyết định của cơ quan trưng cầu giám định nhưng không quá 1/2 thời hạn giám định tối đa đối với loại việc. Như vậy, nếu được gia hạn thì thời hạn giám định kéo dài nhiều nhất của vụ việc sẽ là 06 tháng. Và việc gia hạn phụ thuộc vào Quyết định của cơ quan trưng cầu giám định. Tuy nhiên, khoản 5 Điều 26a dự thảo Luật: “Trường hợp có vấn đề phát sinh hoặc có cơ sở cho rằng vụ việc giám định không thể hoàn thành đúng thời hạn thì cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện giám định phải kịp thời thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do cho người trưng cầu, yêu cầu giám định biết và thời gian dự kiến hoàn thành, ra kết luận giám định”. Theo quy định này thì lại không rõ ràng là thời hạn giám định được kéo dài là bao lâu, không có mốc thời gian cụ thể, và thời gian dự kiến hoàn thành, ra kết luận giám định lại do ý chí của cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện giám định, bởi chỉ cần “thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do cho người trưng cầu, yêu cầu giám định biết”. Ngoài ra, dự thảo Luật chưa quy định rõ là được gia hạn mấy lần, thời hạn giám định trong trường hợp giám định lại, giám định bổ sung. Bà Ngân đề nghị quy định bổ sung và làm rõ nội dung này./.

Tác giả:  Thu Thương, Văn phòng Đoàn ĐBQH, HĐND và UBND tỉnh Bắc Kạn
Sign In