Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Thảo luận về dự án Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án

( Cập nhật lúc: 25/05/2020  )
Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XIV bước sang tuần làm việc thứ hai. Sáng ngày 25/5/2020, Quốc hội thảo luận trực tuyến về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự án Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án. Bà Hồ Thị Kim Ngân, Giám đốc Sở Tư pháp, ĐBQH tỉnh Bắc Kạn tham gia phát biểu ý kiến tại phiên thảo luận.

 

Bà Hồ Thị Kim Ngân, Giám đốc Sở Tư pháp, ĐBQH tỉnh Bắc Kạn phát biểu tại phiên thảo luận


Thứ nhất, về việc bảo mật thông tin trong hòa giải, đối thoại tại Tòa án (Điều 4 dự thảo Luật), bà Ngân khẳng định: Bảo mật thông tin là điểm nhấn mà phương thức giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải, đối thoại tại Tòa án hướng tới, là một trong những lý do chính để các bên lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp này. Tuy nhiên, quy định tại Điều 4 dự thảo Luật về bảo mật thông tin chưa thực sự rõ ràng, không thống nhất dẫn đến việc thực hiện trên thực tế có thể không đạt được như mong muốn, cũng như sự kỳ vọng của các bên. Cụ thể thể hiện qua một số vấn đề sau:

 

Một, khoản 1 Điều 4 dự thảo Luật quy định: “Hòa giải viên, các bên tham gia hòa giải, đối thoại; cơ quan, tổ chức, cá nhân khác được mời tham gia hòa giải, đối thoại không được tiết lộ thông tin mà mình biết được trong quá trình hòa giải, đối thoại, trừ khi có sự đồng ý của bên đã cung cấp thông tin”. Với quy định về điều kiện được tiết lộ thông tin như trên, sẽ phát sinh điểm không thống nhất và sự không hợp lý, cụ thể:

 

Khoản 1 Điều 4 dự thảo Luật nêu trên quy định “có sự đồng ý của bên đã cung cấp thông tin” và không quy định hình thức thể hiện sự đồng ý đó là lời nói hay bằng văn bản. Trong khi, điểm e khoản 1 Điều 14 dự thảo Luật quy định Hòa giải viên có quyền “Từ chối cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bằng văn bản hoặc theo quy định của pháp luật”. Theo quy định này,  Hòa giải viên chỉ được cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính khi có thỏa thuận bằng văn bản của các bên hoặc theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 4 dự thảo Luật nêu trên, Hòa giải viên được tiết lộ thông tin mà mình biết được trong quá trình hòa giải, đối thoại nếu có sự đồng ý của bên đã cung cấp thông tin.

 

Bên cạnh đó, trong thực tế có thể phát sinh trường hợp thông tin được cung cấp bởi một bên nhưng lại là thông tin liên quan trực tiếp đến bên kia. Do đó, việc quy định chỉ cần “sự đồng ý của bên đã cung cấp thông tin” có thể là trở ngại khiến các bên không lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp này, đặc biệt là đối với các tranh chấp về kinh doanh, thương mại.

 

Với những điểm không thông nhất và chưa hợp lý nêu trên, bà Ngân đề nghị điều chỉnh quy định tại khoản 1 Điều 4 dự thảo Luật theo hướng: Hòa giải viên, các bên tham gia hòa giải, đối thoại; cơ quan, tổ chức, cá nhân khác được mời tham gia hòa giải, đối thoại không được tiết lộ thông tin mà mình biết được trong quá trình hòa giải, đối thoại, trừ khi có sự đồng ý bằng văn bản của các bên.

 

Hai, khoản 2 Điều 4 dự thảo Luật quy định: “Trong quá trình hòa giải, đối thoại không được ghi âm, ghi hình, ghi biên bản hòa giải, đối thoại. Việc lập biên bản chỉ được thực hiện để ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại theo quy định tại Điều 31 của Luật này…”. Việc quy định trong quá trình hòa giải không được ghi biên bản hòa giải, đối thoại và việc lập biên bản chỉ được thực hiện để ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại, trong khi nội dung biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại (được quy định tại khoản 1 Điều 31) lại bao gồm việc ghi nhận về diễn biến quá trình hòa giải, đối thoại, điều này gây nên sự lúng túng trong việc hiểu được ý nghĩa của quy định không ghi biên bản trong quá trình hòa giải và mối liên hệ với việc đảm bảo nguyên tắc bảo mật thông tin.

 

Thứ hai, về sự tự nguyện của các bên trong hòa giải, đối thoại tại Tòa án, bà Ngân cho rằng các quy định cụ thể về nội dung này trong dự thảo Luật chưa thực sự rõ ràng, thống nhất, cụ thể như sau:

 

- Điều 18 dự thảo Luật mới chỉ chú trọng đến việc lựa chọn hòa giải, đối thoại tại Tòa án của người nộp đơn thông qua quy định về việc thông báo cho người nộp đơn biết về quyền được lựa chọn hòa giải, đối thoại và việc xử lý trong trường hợp người được thông báo đồng ý, không đồng ý hoặc không trả lời. Đối với người bị kiện, việc tham gia hòa giải, đối thoại tại Tòa án cũng phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng sự tự nguyện của người đó. Tuy nhiên, dự thảo Luật không quy định về việc thông báo, quyền lựa chọn của người bị kiện. Điều này dẫn đến việc có thể hiểu rằng người bị kiện không được quyền lựa chọn mà buộc phải tham gia trong trường hợp người khởi kiện, người nộp đơn yêu cầu lựa chọn hòa giải, đối thoại ngoài tố tụng. Điều này không phù hợp với nguyên tắc được ghi nhận tại khoản 1 Điều 3 dự thảo Luật.

 

Tại khoản 6 Điều 18 dự thảo Luật, trường hợp người được thông báo đồng ý hòa giải, đối thoại hoặc trường hợp họ không trả lời Tòa án theo quy định tại khoản 5 Điều này thì Thẩm phán phụ trách hòa giải, đối thoại phải chỉ định Hòa giải viên do các bên lựa chọn hoặc chỉ định Hòa giải viên trong các trường hợp khác quy định tại khoản 4 Điều 15 dự thảo. Việc không quy định về thông báo cho người bị kiện biết sẽ dẫn đến không thể thực hiện việc lựa chọn Hòa giải viên của các bên cũng như việc chỉ định Hòa giải viên theo sự lựa chọn của các bên. Do đó, bà Ngân đề nghị nghiên cứu bổ sung tại dự thảo Luật việc thông báo cho bên bị kiện biết về việc lựa chọn hòa giải, đối thoại tại Tòa án và lựa chọn Hòa giải viên.

 

- Đoạn 1 khoản 5 Điều 18 dự thảo Luật quy định: “Hết thời hạn quy định tại khoản 4 Điều này mà người được thông báo chưa có ý kiến trả lời, thì Tòa án thông báo lại lần thứ hai cho họ biết để thực hiện quyền lựa chọn hòa giải, đối thoại theo quy định của Luật này”. Như vậy, theo quy định này, sau 03 ngày kể từ ngày nhận được thông báo lần đầu mà người được thông báo chưa có ý kiến trả lời, Tòa án thực hiện thông báo lần thứ hai.

 

Tuy nhiên, đoạn 2 khoản này lại quy định: “Nếu quá thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án quy định tại khoản 4 Điều này mà người được thông báo vẫn không trả lời, thì Tòa án phân công Thẩm phán phụ trách hòa giải, đối thoại”. Theo quy định này, trường hợp hết 03 ngày kể từ ngày nhận được thông báo lần đầu, người được thông báo không trả lời thì Tòa án phân công Thẩm phán phụ trách hòa giải, đối thoại. Như vậy, quy định tại đoạn 1 và đoạn 2 khoản 5 Điều 18 dự thảo Luật là không thống nhất. Do đó, bà Ngân đề nghị điều chỉnh thống nhất các quy định trên.

 

Bên cạnh đó, trường hợp người được thông báo không trả lời thì ý chí, sự tự nguyện của họ về việc tham gia hòa giải, đối thoại tại Tòa án không được thể hiện rõ ràng. Tuy nhiên, dự thảo Luật vẫn quy định về việc phân công Thẩm phán phụ trách hòa giải, đối thoại trong trường hợp này. Tiếp đó, nếu các bên không lựa chọn Hòa giải viên, Thẩm phán tiếp tục chỉ định Hòa giải viên theo khoản 4 Điều 15 dự thảo. Rõ ràng, đây là một quy trình không có sự tham gia của các bên mà chỉ có sự đơn phương của Hòa giải viên và Thẩm phán. Điều này có thể không mang lại hiệu quả trong việc giải quyết tranh chấp, khiếu kiện của các bên, mà chỉ làm tăng thêm thời gian giải quyết tranh chấp, khiếu kiện. Đề nghị điều chỉnh theo hướng chỉ tiến hành hòa giải, đối thoại ngoài tố tụng khi có sự đồng ý của các bên.

 

Thứ ba, về xử lý việc chấm dứt hòa giải, đối thoại (tại Điều 41 dự thảo Luật), bà Ngân cho rằng, Điều 41 dự thảo Luật mới chỉ quy định về xử lý việc chấm dứt hòa giải, đối thoại trong các trường hợp quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5 và 6 Điều 40, chưa quy định về xử lý việc chấm dứt hòa giải, đối thoại trong trường hợp tại khoản 1 Điều 40 dự thảo - hòa giải thành, đối thoại thành. Điều này có thể dẫn đến những điểm không rõ ràng trong thực tế thực hiện như sau: Đó là trong trường hợp các bên thỏa thuận, thống nhất được một phần nội dung tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính mà phần đó độc lập không liên quan đến các phần tranh chấp, khiếu kiện khác.

 

Theo quy định tại khoản 6 Điều 34 dự thảo Luật, trường hợp các bên thỏa thuận, thống nhất được một phần tranh chấp dân sự, một phần khiếu kiện hành chính thì chỉ được công nhận khi nội dung thỏa thuận, thống nhất đó độc lập, không liên quan đến các phần tranh chấp, khiếu kiện khác. Như vậy, có thể hiểu trường hợp các bên chỉ thỏa thuận, thống nhất được một phần nội dung tranh chấp, khiếu kiện mà phần đó độc lập, không liên quan đến các phần tranh chấp, khiếu kiện khác thì cũng được coi là hòa giải thành, đối thoại thành. Trong trường hợp này, đối với nội dung tranh chấp, khiếu kiện chưa thỏa thuận, thống nhất được thì mong muốn khởi kiện với nội dung này vẫn còn. Do đó, Hòa giải viên vẫn cần thực hiện việc chuyển tài liệu cho Tòa án đã nhận đơn để tiến hành xem xét, thụ lý giải quyết đối với những nội dung còn lại chưa thỏa thuận, thống nhất được theo thủ tục tố tụng. Bà Ngân đề nghị nghiên cứu bổ sung vào dự thảo quy định về việc xử lý đối với trường hợp nêu trên.

 

Chiều cùng ngày, Quốc hội thảo luận trực tuyến về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp và một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự án Luật Thanh niên (sửa đổi)./.

Tác giả:  Thu Thương, Văn phòng Đoàn ĐBQH, HĐND và UBND tỉnh Bắc Kạn
Sign In